HƯƠNG LỤC CHI ĐÔNG QUYỂN II - LỜI TỰA

LỜI TỰA
Cũng có người hỏi tôi làm gì phải viết quyển này ? Ý tôi thấy: Lấy lời nói mà ghi lại sách, ngụ ý chưa đủ.
Trước sách thượng thư có ghi những việc của vua Nghiêu vua Thuấn, mà lưu tên ngàn đời. Chỉ riêng sách ngũ thư lấy vâng ý của trên mà trao cho ý dưới, cho nên phải viết quyển II (giữa) để thấy cái thiên ở trên là gốc. Tìm trên dưới mà dùng vậy.
Sách ngũ thư cũng dùng ý ấy, đọc những thiên ấy biết được những văn chương, sự nghiệp, mà lấy trong đó vô cùng đủ ý sâu xa vậy thay. Từ trước về sau, mỗi khoa, mỗi vị đỗ đạt ghi chép họ tên, kỳ tế xuân, thu các vị tiên hiền nhất nhất đều rõ ràng muôn đời văn tự lưu truyền không sai sót vậy
Nguyễn Án

TRẢI QUA CÁC ĐỜI KHOA TRƯỜNG

Nhất Ban Văn
Nguyễn Đình Mỹ - Hiệu Triều Phủ.
Trước sau 5 lần đi xứ nhà Minh tiến sỹ khoa nhâm tuất niên hiệu Đại Bảo. Lê Thái Tông bổ làm khởi cư xá nhân. Lê Thánh Tông bổ làm binh bộ thượng thư. bàn việc trái ý giáng xuống làm tả thị lang.
Ngô Kính Thần - Hiệu Bỉnh Đạo
Đỗ đệ nhị giáp tiến sỹ xuất thân khoa quý sửu (1493) niên hiệu Hồng Đức thứ 24. Lê Thánh Tông bổ làm chánh thừa sứ. Sự tích rõ ở quyển I.

Nhất Ban Võ:
Nguyễn Tướng Công húy cạnh - tự Trung Liệt
Quan võ đời Lê Thế Tông (1572-1599) niên hiệu Gia Khánh Quang Hưng, làm chức đô chỉ huy sứ, sự tích ghi rõ ở quyển I
Khoa Thi Hương: Nhất Trung Trường - Ngô Công Tự Đôn Phác
Đỗ cử nhân - học sinh trường Quốc Tử Giám - trải tiếp Mậu Lâm-Tả-Lang-Tri-Phủ
Khoa Thi Hương (1485) Nguyễn Tuẫn Lễ hiệu Nghiêm Trung
Đỗ tú tài năm (1485) là tổ xa ông Nguyễn Án
Khoa Thi Hương Nguyễn Tán Hãn Đỗ tú tài Khoa Thi Hương (1708)
Lê Nguyễn Bạt đỗ tú tài năm mậu tý Lê Dụ Tông niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 4. 21 tuổi với bài phú chọn người hiền để làm quan, ông là chú 2 ông Ngô Phấn và Lê Huy Khuê ông ngoại ông Nguyễn Án sinh 1687-1754

Khoa Thi Hương (1711) Nguyễn Công Tiên đỗ tú tài năm tân mão triều Lê Dụ Tông niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 7, 24 tuổi với bài phú làm quan phải biết chức phận vì dân. Sau thụy hiệu Huyền Linh thọ 50 tuổi 
Khoa Thi Hương (1717) Đỗ Hữu Kính Đỗ tú tài năm Đinh Dậu Lê Dụ Tông niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 13. 29 tuổi với bài phú xa gần phải có quy chế. Sau thụy hiệu Huyền Lịch thọ 61 tuổi 
Khoa Thi Hương (1723) Ngô Phấn Đỗ tú tài năm Quý Mão Lê Dụ Tông niên hiệu Bảo Thái thứ tự 19 tuổi với bài phú Tống Thái Tổ gặp may ở Trì Thành Miếu. Sau thụy hiệu Thuần Đạt thọ 42 tuổi là con trưởng cụ Lê Nguyễn Bạt anh ruột Lê Huy Khuê Khoa Thi Hương (1729) Lê Nguyễn Trạc Đỗ tú tài năm Ất Dậu Lê Dụ Tông niên hiệu Bảo Thái thứ 10. 21 tuổi với bài phú Tri Hoằng Văn Quán sau đổi tên là Lê Huy Khuê con thứ cụ Lê Nguyễn Bạt (con ông Ngô Phấn)

Còn nữa...
Bản điện tử bởi Nguyễn Văn Sơn - Tổ 4. Sao chép từ Chi Đông Hương Lục (Bản dịch từ cuốn chữ Hán 1781)

Comments

Popular posts from this blog

Sự tích: Đức thánh Trương Tam Giang

Sông Cà Lồ