CHI ĐÔNG HƯƠNG LỤC - Quyển 1 - Các Họ tại Chi Đông - Phần 2

....7 họ lại chia làm 7 xóm đến nay 1781 hộ khẩu cùng các họ mới thêm nhiều (việc này được nghe cụ trùm lễ Ngô Công Khuê hiệu Hiếu Hải 83 tuổi kể lại)


Họ Đỗ:

Thời Lê Trung Hưng 興黎朝 có người họ Đỗ sinh 3 con trai con trưởng làm quan nội giám tước Hàn Lang Hầu, tính kiêu căng nói to, lấy đất làng ta làm 1 dinh cơ, cả các ao trước làng là hồ, muốn dời làng xuống đồng khuất, ý định như thế xong không thành. Thời ấy có người bạn coi kho trên, bèn mưu lấy làm của riêng. Việc bại lộ quan sai về nhà thu hết tài sản và còn bị cách chức quan!
- Con thứ 2 là Đỗ Thực làm quan Nội Giám bất đạt, nhưng tính mẫn tiệp, ăn nói giỏi giang. Đi hầu vua, phàm trong làng có gì khó khăn ông đều chạy trọt giúp đỡ, sau khi chết lấy hiệu là Phúc Chân (là Hậu Hiền Tư Văn)
-Con thứ 3 là Đỗ Minh làm xã trưởng, sinh được 2 trai 1 gái. Con gái bị khách thừa sai, làm nhục, ông rất bực mình và làm quan nội giám cũng không được. Họ hàng vẫn còn và nay cùng gốc, khác cành có ông Kim Thọ là cháu họ, làm quan không được, tuổi già về làm thầy tăng ở chùa làng.
Họ Lê:
Trước ông cha là người thôn Bảo Tháp xã Kim Hoa cùng huyện ta, tên là ông lão Công. Đến ở làng ta có nuôi 1 con là Lê Đạo Long. Thời Lê Vĩnh Hựu và Cảnh Hưng có phát nội giám quan tước Diễn Trung Hầu, ông tính chất phác, ủy mỵ. Họ hàng nay vẫn còn.
Bản Nguyễn Đổi Ngô:
Thời Lê Dụ Tông niên hiệu Vĩnh Thịnh (1705) Họ Nguyễn có ông Lê Nguyễn Bạt đỗ tú tài (ông chính người họ Nguyễn về cha mẹ nuôi, họ Lê nên đổi họ Lê) ông sinh được 2 con trai 4 con gái. Con trai trưởng là ông Ngô Phấn sinh năm (1704, Niên hiệu Bảo Thái (1723) đỗ tú tài (vì ông ngoại họ Ngô nên đổi họ Ngô)
Con trai thứ 2 là Lê Nguyễn Trạc đỗ tú tài sau đỗ cử nhân đổi tên là Huy Khuê
Một con gái gả chồng cho họ Nguyễn là cháu ông Cẩm Lộc Hầu sinh ra ông Nguyễn Án đỗ cử nhân, sau làm tri huyện, huyện Bình Tuyền
Một con gái gả chồng ở huyện Yên Lãng, Làng Lý Hải có tiết nghĩa cháu là Nguyễn Quốc Tân đỗ tú tài sinh 2 con trai, con trưởng là Nguyễn Huy Kích đỗ cử nhân, làm tri huyện Tam Dương
Một con gái gả chồng họ Ngô là ông Ngô Đăng Vụ sinh 2 con trai
Con trưởng là Ngô Duy Ninh, làm xã trưởng, sau làm trương Huyên
Một con gái gả cho ông Hạ Danh Nghị cùng làng đỗ tú tài
Nói chung nhà ông, cha, con, anh, em dốc lòng theo thầy học nghiệp, nuôi dưỡng nghề nho ngày thêm sâu rộng, cha con anh em thi cử đều đỗ đạt, văn chương lễ nghĩa đều khá, giữ gìn được tốt là một thầy học mẫu mực trong làng. Sau khi các ông mất đi, làng ta thờ là tiên hiền. Ngày mất học trò làm văn tế có câu (Sơ phá thiên hoang ư bích ủ - thủ khai đạo học ư cùng lư)
Tạm dịch: (ví nhà thầy ta dạy học đã mở mang. Không khác gì những người đã phá hoang san gò, lấp trũng, làm nên mảnh đất màu mỡ)
Sau đó môn sinh nhiều người nhớ ơn sự dạy giỗ, cảm hóa bèn lập ruộng ở đồng Mê, Đống Hai để thờ cúng Xuân thu, Ngày giỗ và dựng bia để lưu truyền
Thường hỏi những năm Hồng Đức (1470-1497) làng ta cũng có người đỗ đại khoa, làm quan to trong triều, sao lại có câu Phá thiên hoang. Xin nói rằng sự việc đó cố nhiên, vì sau thời ấy giặc giã loạn lạc (mạc triều binh hỏa - Trịnh Nguyễn phân tranh) Sau loạn lạc mất mát không truyền lại được.
Đến đời Trung Hưng đây đã 200 năm. Vậy chưa có nền chấn chỉnh văn hóa, trong làng còn mờ tối, để làm cho sự trước, tỏ sau sáng ra vậy: Ông Bạt ra đời lúc bấy giờ, cha con, anh em, đều nối tiếp nhau thi cử đỗ đạt lấy sự hay việc tốt mà thày dạy các học trò, không những người trong làng học đỗ đạt mà người ở những làng bên, huyện bên cạnh nghe tiếng cũng chẳng quản đường xa cũng đến xin theo học, tu chí chẳng buồn cho người cùng hưởng đạo văn. Đấy gọi là Phá Hoang cũng nên vậy thay. Họ hàng con cháu vẫn còn.
(Nay là họ nhà cụ Đốc, Đại, Ông Phụng xóm Đông)
Họ Hạ:
Thời Lê Trung Hưng ở thôn Khánh xã Nội Duệ huyện Tiên Du, có người đến ở làng ta làm con nuôi ông Phú Lãnh họ Hạ nhân đó theo họ Hạ. Sau đó có cháu là ông Hạ Danh Nghị đỗ tú tài, con cháu nay vẫn còn (Việc này nghe ông Hạ Danh Nghị nói)

Họ Phạm:
Cũng thời ấy (Lê Trung Hưng) cùng ở huyện ta ở làng Xuân Bách tổng Quan Đình có 1 cành họ Phạm đến ở làng ta, nay con cháu vẫn còn
(Nay là họ nhà ông Phạm Sử Trung (xóm Đông) nay ông Trung lại nhận họ Nguyễn xóm chùa, vậy họ Phạm không còn ai)
Họ Lưu:
Cũng thời ấy có người họ Lưu từ xã Giao - huyện Đường An đến ở làng ta, nay con cháu vẫn còn
Họ Đỗ:
Hồi trung cổ ở huyện Siêu Loại xã Đông Hồ có người họ Đỗ đến ở làng Phù an cùng tổng ta được 1 đời sau rời làng Phù An đến ở làng ta. Thời Lê Trung Hưng làm quan đến nội giám, tước Hoa Lộc Hầu. Hiện là quan hậu Thần- hậu Phật làng ta thờ. Vì ông có nhiều công lao tiền của cung tiến xây dựng Đình, Chùa, Đền. Ông tính khoan hòa cẩn thận
(Việc này được nghe cháu ông Nội Giám Hoa Lộc Hầu là ông Vinh Thọ Đỗ Đình San nói lại có căn cứ)
Họ Nguyễn đổi Hạ:
Cùng thời ở huyện Tiên Du có ông tự là Phúc Thiện đến ở làng ta sinh được 1 con gái là Nguyễn Thị Phòng hiệu Từ Sảo gả chồng cho người làng ta la ông Lê Công Chấn. Sau ông kết nghĩa với ông Nguyễn Thời Mẫn, ông Mẫn làm con nuôi ông Hạ Phúc Đạm. Nhân đó mà xưng họ Hạ. Nay họ hàng con cháu vẫn còn.
Họ Nguyễn:
Cũng thời ấy ở huyện Đường An xã Lương Đường có người đến ở Giai Lạc sinh 1 chi. Sau đến ở làng ta nhân Nguyễn mà xưng họ, sinh ra ông Phúc Hiền (là ông nội ông Nguyễn Khắc Kham bây giờ) Sau đó con cháu là những nhà giầu lớn trong làng, nay họ hàng con cháu vẫn còn
(Việc này được nghe ông Nguyễn Khắc Kham kể)
Họ Cung:
Thời Lê Dụ Tông niên hiệu Bảo Thái (1717) ở xã Cón Cao vùng Giao Thủy-Nam Định, có người họ Dương đến ở làng ta sau có người cùng họ ở Nam Định lên trú quán ở làng nhận tái cùng huyện ta tính hung hãn, sợ bị liên lụy nên phải đổi là họ Cung. Con là ông Phúc Ninh là một nhà giầu lớn trong làng.
Nay con cháu vẫn còn (Nhân đi hội đám Minh Lương được biết có người ở thôn Bác Trạch xã Nhạn Tái là người cùng họ tính hung hãn cho nên sợ liên lụy nên người họ Dương ở làng ta phải đổi họ Cung
(Việc này được ông Nguyễn Hữu Quyền nói lại có căn cứ
(Nay thuộc họ nhà ông Cung Văn Đạt xóm chùa)
Họ Nguyễn: 
Năm Lê Vĩnh Khánh (1730) có người ở xã Đông Đồ cùng huyện ta họ Nguyễn Tên Bá đến ở làng ta làm con nuôi ông Nguyễn Công Trạc tự Phúc Tâm. Thời ấy là một thày chùa giỏi có tiếng (nay con cháu vẫn còn)
Họ Trần:
Năm Lê Thuần Tông niên hiệu Vĩnh Hựu (1732-1735) ở huyện Yên Lãng xã Hạ Lôi có người họ Trần đến ở làng ta tên là Trần Văn Thục, anh, em, con, cháu làm nghề thợ mộc (nay con cháu vẫn còn)
(Nay là họ Trần nhà ông Hộ xóm Trại Giềng)
Họ Nguyễn:
Cũng thời ấy ở huyện Đông Ngàn xã Vĩnh Cầu có ông Nguyễn Tử đến ở làng ta (nay con cháu vẫn còn)

Họ Nguyễn:
Cùng thời ở huyện Yên Lãng tổng Bạch Trữ xã Thịnh Kỷ có người đến ở làng ta (nay con cháu vẫn còn)
Họ Nguyễn:
Cùng thời ở huyện Kim Động xã Hoàng Vân có người họ Nguyễn đến ở làng ta, làm nghề thợ rèn. Con là ông Đình Trần nối nghiệp cha cũng khéo tay có tiếng
(Nay con cháu vẫn còn)
Hai Họ Nguyễn:
Cùng thời ấy ở huyện Tiên Du tổng Yên Thường xã Quy Mông có hai người họ Nguyễn đến ở làng ta
1: Ông Nguyễn Văn Xúc
2: Ông Nguyễn Văn Cổn
(Nay con cháu hai ông vẫn còn)
Họ Trịnh:
Thời Lê Hiển Tôn hiệu Cảnh Hưng (1741-1785) ở huyện Từ Liêm xã Hạ Hội có ông Trịnh Duy Tư nhân có người nhà là tổ phụ đến trước làm thày chùa ở làng ta. Sau xin cho con cháu đến ở làng ta nhận Trịnh mà xưng họ (Nay con cháu vẫn còn (nay là họ Trịnh nhà ông An và Trịnh Hữu Nghĩa)
TỔNG LUẬN RẰNG:
Thời ấy (đương niên hiệu Cảnh Hưng) làng ta cộng lại có:
18 họ Nguyễn
1 họ Cung
2 họ Hạ
2 họ Đỗ
1 họ Ngô
1 họ Lê
1 họ Phạm
1 họ Lưu
1 họ Trần
1 họ Trịnh
Làng ta có mạch đất như thế nào vậy. Lấy quý mà nói ở 2 ban văn võ chẳng những có 1 khoa đỗ đạt, mà xem ra trong ngoài đều phát. Họ Lê ông Nguyễn Bạt là tối ưu đỗ giám ban trong khoa trường. Thời họ Nguyễn, họ Ngô làm đầu. Nói khác nữa như Đông Hồ có Hoa Lộc Hầu. Kim Hoa có Diễm Trung Hầu, Nội Duệ có các ông tú tài cũng lấy cư trú ở làng ta mà đỗ đạt. Lấy phú mà nói ngay ở làng ta như các ông Phú Tư, Phúc Lãnh những nhà giầu to mà như ở cồn cao, Lương Dường mới đến cũng được giàu lớn như ông Phúc Ninh, Phúc Hiền đều được nổi tiếng.
Như vậy há chẳng phải trong làng có mạch đất chăng ?
Dần - Mão núi ứng địa thế bao quanh, anh em trong ngoài đều vui vẻ cả, trong ngoài đều phát (nội giám, tiến sỹ, cử nhân, tú tài đều có vậy./.
Hết Quyển I Chi Đông Hương Lục
tác giả: Nguyễn Án
Ghi chép điện tử: Nguyễn Văn Sơn

Lời nhắn từ BTC chidong.org
Bài viết được chép và biên tập lại từ cuốn dịch Hương Lục Chi Đông do ông Toán (nhà ở tổ 8) cung cấp được dịch từ cuốn Hương Lục Chi Đông bản gốc, chữ Hán Nôm viết bởi cụ Nguyễn Án, năm 1781. BTC rất mong nhận được nhiều ý kiến, bổ sung, thay đổi của bà con cô bác anh chị em Chi Đông. Đặc biệt, BTC rất mong ai có tài liệu, hình ảnh, video nào liên quan đến Chi Đông mình (Chùa, Đền, Đình, Lễ Hội...) xin hoan hỷ chia sẻ về địa chỉ email: chidong@chidong.org

Comments

Popular posts from this blog

Sự tích: Đức thánh Trương Tam Giang

Vòng 2 CDF Legends Cup 2018 - Đối thủ truyền kiếp gặp nhau