CHI ĐÔNG HƯƠNG LỤC - Quyển 1 - Các Họ tại Chi Đông - Phần 1


Làng ta từ trước tới xưa gọi là xã Chi Long tổng Gia Thượng huyện Phù Lỗ (sau đổi là huyện Kim Hoa) phủ Bắc Hà trấn Kinh Bắc. Đến đời Lê Trung Hưng đổi Chi Long là Chi Đông làng ta ở thời triều nhà mạc (1527-1592) loạn lạc có ghi (Mạc triều binh hỏa) còn lại 7 người chia làm 7 họ. 2 họ Nguyễn, 1 họ Ngô, 2 họ Hạ, 1 họ Lê, 1 họ Phạm

7 họ lại chia làm 7 xóm đến nay 1781 hộ khẩu cùng các họ mới thêm nhiều (việc này được nghe cụ trùm lễ Ngô Công Khuê hiệu Hiếu Hải 83 tuổi kể lại)

Họ Ngô: 
Trong 7 họ nghe truyền đời Lê Thánh Tông 黎聖宗 (1470-1497) niên hiệu Hồng Đức thứ 24. (1493) họ Ngô có 1 ông đỗ tiến sỹ làm quan đến Chánh thừa xứ, kế đó có ông Ngô Văn Phúc đỗ cửa nhân làm quan mậu lâm tả lang tri phủ. Sau đó đời Lê Trung Hưng có cháu xa la ông lão Hai làm nội giám quan (bất đạt) kế sau đó con cháu đời đời làm xã trưởng. Nay ở xứ đồng Khuất có những ao chuôm nhỏ, người làng ta vẫn gọi là ao của quan Chánh Thừa Xứ (việc này nghe cậu và thày học truyền lại).
Hiện nay (1781) tra cứu ghi các khoa thi cử của ông Vũ Đăng Phan tiến sỹ người làng Mộ Trạch huyện Đường An trấn Hải Dương thấy ghi năm Quý Sửu (Lê Thánh Tông niên hiệu Hồng Đức thứ 24) (1493)
Khoa thi hội ông Ngô Kính Thần đỗ tiến sỹ có ghi ở xã Chi Long lại ghi ở xã Xuân Hy, đến năm Kỷ Hợi (1779) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 40 xem lại bản in khoa cử chỉ ghi ở xã Xuân Hy
(hoặc giả từ quan khi tiền triều (sang làng ta cùng ghi phối tự tiên hiền nay họ hàng con cháu vẫn còn)
(Hiện nay là họ Ngô cổ nhất trưởng thuộc nhà ông Liệu xóm Đông)

Họ Nguyễn

Trong 7 họ. Nghe truyền đời Lê Thái Tôn 黎太宗 niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442) họ Nguyễn có ông Nguyễn Đình Mỹ 阮庭美 làm giám quan đến cực phẩm - tước Đông Lý Hầu. Khởi cư xá nhân. Binh bộ thượng thư. Đương thời làm tổng đốc Đông Đạo Tướng Công cho chuyển 18 phiến đá Đông Triều về làng làm cầu đường đến nay vẫn còn.Tướng công nuôi cháu họ là ông Nguyễn Tuấn Lễ, hiệu Nghiêm. trung làm con nuôi, gặp thời được làm cậu ấm, lấy dân binh đóng đồn ở huyện ta (chợ Nga xã Thanh Nhàn) lấy vợ chính ở làng ta đã có con trai sau lại lấy vợ thiếp ở Phù Lai xã Sơn Cầm cùng huyện ta sinh ra 1 cành ở đấy
Đến thời Lê Dụ Tông 黎裕宗 (1705-1729) niên hiệu Bảo Thái, cháu 4 đời của ông Nghiêm Trung làm quan nội giám, tước Cẩm Lộc Hầu nay cháu 8 đời là Nguyễn Án là Giám Sinh sau đậu Cử Nhân mới đầu giữ chức tự ban. Sau nhận chức Mậu Lâm Tả Lang Tri Huyện Bình Tuyên. Nay họ chính ở làng ta, còn Sơn Cầm chỉ là 1 cành thứ. Gia phả còn ghi rõ ràng
(Trưởng là ông Nguyễn Cảo xóm Đông)

Họ Nguyễn II:

Thời Lê Mạc 1573. Hoàng đế thế tôn nhà Lê niên hiệu Gia Thái. Có ông họ Nguyễn Tên Cạnh tính can đảm ăn khỏe không ham việc nhà có sức khỏe phi thường, mẹ bảo ra ruộng cào luống để trồng dưa, thửa ruộng 1 sào ông chỉ cào thành 1 luống, đi tát chuôm 1 mình chỉ cần gầu vảy mà cạn chuôm mẹ ông rất buồn, gia đình thì ngèo túng. Truyền rằng vì ông có sức khỏe nên làng cử ông đi gánh tiền thuế ra kinh đô nộp vua. Khi đến kinh đô chủ quán hàng ăn tưởng là tiền của ông liền chào mời đon đả, ông cũng nói đùa (không có tiền) mụ quán cứ kéo vào ăn, ông ăn rất nhiều, xong khi ra không trả tiền, vợ người chủ quán giằng áo lại ông vung tay lên gỡ chẳng may mạnh quá đập vào bụng người này làm người này lăn ra chết (vì bà này có thai) chủ quán liền cáo quan về tội giết người
Sau khi nghe chồng người đàn bà sấu số trình bày, quan liền sai đội trói lại và giam vào ngục.
Đang lúc nguy cấp ngồi trong ngục nhìn ra ông thấy viên quan võ cùng quân lính tập duyệt như bắn cung cưỡi ngựa đấu đều không tài, nhân lúc đó ông nói với người cai ngục là: "cho tôi ra làm thay xem có hơn không". Cả trường bắn ai nghe cũng tức giận. Nói cởi trói cho nó làm thử, nếu không được thì chém ngay. Quả nhiên ông võ nghệ hơn người, liền được tha tội và cho ở ngay trong đội ngũ, theo quan thủ hiệu đi đánh ở Lệ Minh-Đầm Hồng (vùng Chiêm Hóa-Bắc Cạn ngày nay) ông thường lập được công to, nên được vua phong tới chức đô chỉ huy xứ. Đến sau này ông về làng qua đường xã Lâm Hộ cùng tổng nhà. Khi đi qua cửa miếu ông Thi (ông Thi Sách, Sử còn ghi) không xuống ngựa, bị thần quở phạt đau bụng chết ngày 7-giêng, táng ở đồng khúc nay là ruộng chùa sau đó làng Giai Lạc lập miếu thờ ở phương bắc đồng Bông, Giai Lạc hương khói không dứt. Nay miếu vẫn còn gọi là miếu thừa tướng nay họ hàng vẫn còn mà làng ta cũng thờ làm tiên hiền (việc này được nghe cậu và thày dạy học truyền lại) Lạ thay ông Nguyễn làm quan chẳng do tiến cử, chẳng do dòng dõi, chẳng khoa mục không cần giúp đỡ, thậm chí lấy nói đùa võ nghệ tự mình mà lập công. Làng ta có quan võ đầu tiên cũng từ ông vậy.
Thử nói tất bật mà thành công, lời ấy không ngoa. Nói tướng võ không phải dòng cũng đã có vậy! Còn nói về miếu ông Thi không xuống ngựa mà ông chết có thật hay không. Âm dương cách biệt chưa chắc đã có hoặc không thời quỷ thần là tuế thịnh. Vậy thì chưa chắc là không phải. Thường nói kính mà xa đấy, chẳng khiến người đời sau cho là thật vậy sao ?
(Họ Nguyễn này ngày nay trưởng là ông Chén xóm Bình Ngô)

Còn nữa....
Cập nhật bản điện tử bởi Nguyễn Văn Sơn

Lời nhắn từ BTC chidong.org
Bài viết được chép và biên tập lại từ cuốn dịch Hương Lục Chi Đông do ông Toán (nhà ở tổ 8) cung cấp được dịch từ cuốn Hương Lục Chi Đông bản gốc, chữ Hán Nôm viết bởi cụ Nguyễn Án, năm 1781. BTC rất mong nhận được nhiều ý kiến, bổ sung, thay đổi của bà con cô bác anh chị em Chi Đông. Đặc biệt, BTC rất mong ai có tài liệu, hình ảnh, video nào liên quan đến Chi Đông mình (Chùa, Đền, Đình, Lễ Hội...) xin hoan hỷ chia sẻ về địa chỉ email: chidong@chidong.org

Comments

Popular posts from this blog

Sự tích: Đức thánh Trương Tam Giang

Vòng 2 CDF Legends Cup 2018 - Đối thủ truyền kiếp gặp nhau